GIỚI THIỆU TIỀM NĂNG NGHỆ AN

Vị trí địa lý:
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam (vĩ độ Bắc (từ:180 33′ đến 200 01′) và kinh độ Đông (từ 1030 52′ đến1050 48′ ); Phía Đông giáp biển, phía Tây giáp nước CHDCND Lào, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hóa; Nằm trong hành lang kinh tế Đông – Tây (nối liền Myanmar – Thái Lan – Lào – Việt Nam ) theo Quốc lộ 7 đến cảng Cửa Lò; có 1 thành phố, 3 thị xã và 17 huyện. Trong đó, Thành phố Vinh là đô thị loại 1

Địa hình:

Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, địa hình đa dạng, phức tạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối hướng nghiêng từ Tây – Bắc xuống Đông – Nam với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du, đồng bằng ven biển. Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Pulaileng (2.711m) ở huyện Kỳ Sơn, thấp nhất là vùng đồng bằng huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Yên Thành có nơi chỉ cao đến 0,2 m so với mặt nước biển (đó là xã Quỳnh Thanh huyện Quỳnh Lưu). Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên của toàn tỉnh.
Khí hậu, thủy văn:
– Khí hậu: Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây – Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau). Nhiệt độ trung bình hàng năm 23 – 24,20C. Tổng lượng mưa trong năm là 1.200 – 2.000 mm. Độ ẩm trung bình hàng năm 80-90%. Tổng số giờ nắng trong năm khoảng 1.460 giờ.

– Thủy văn: Tỉnh Nghệ An có 7 lưu vực sông (có cửa riêng biệt) với tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình là 0,7 km/km2. Sông lớn nhất là sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ huyện Mường Pẹc tỉnh Xiêng Khoảng (Lào), có chiều dài là 532 km (riêng trên đất Nghệ An có chiều dài là 361 km), diện tích lưu vực 27.200 km2 (riêng ở Nghệ An là 15.346 km2). Tổng lượng nước hàng năm khoảng 28.109 m3.

Diện tích tự nhiên

Nghệ An có diện tíchtự nhiên 1.649.368,62 ha, là tỉnh có diện tích lớn nhất cả nước, địa hình phong phú, đa dạng, có biển, đồng bằng, trung du và miền núi. Trong đó: Đất nông nghiệp 1.238.315,48 ha (đất sản xuất nông nghiệp: 256.834,9 ha, đất lâm nghiệp có rừng 972.910,52 ha, đất nuôi trồng thủy sản 7.457,5 ha, đất làm muối 837,98 ha, đất nông nghiệp khác 265,58 ha), Đất phi nông nghiệp 124.653,12 ha, Đất chưa sửa dụng: 286.056,4 ha.

Đất đai lớn là tiềm năng để phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản trên quy mô lớn, tập trung, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến các loại sản phẩm từ cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày, cây ăn quả, cây dược liệu, chăn nuôi đại gia súc, gia cầm v.v..

Dân số và lao động

Nghệ An có dân số hơn 3,1 triệu người, là địa phương đông dân thứ tư trong cả nước (sau Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Thanh Hóa). Tỷ trọng: Dân số sống ở thành thị 13,1%; dân số nữ 50,32%; Dân số phi nông nghiệp 31,3%. Mật độ dân số trung bình 178 người/km2. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,0%.

Nghệ An là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh – danh nhân văn hoá thế giới, là vùng đất nổi tiếng có truyền thống hiếu học, học giỏi, cần cù, sáng tạo; là trung tâm giáo dục – đào tạo của khu vực Bắc miền Trung với 05 trường Đại học, 08 trường cao đẳng đào tạo trên các lĩnh vực: kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nghề, sư phạm, y tế, văn hóa nghệ thuật… Đặc biệt, là hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp và đào tạo nghề lao động kỹ thuật trên địa bàn tỉnh đáp ứng đầy đủ nhu cầu nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư.

Tổng số lực lượng lao động gần 1,8 triệu người. Trong đó, lực lượng lao động được đào tạo chiếm 44%, lực lượng lao động được đào tạo nghề chiếm 36%.

Tài nguyên thiên nhiên

– Rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp có rừng 972.910,52 ha. Trong đó, rừng sản xuất 501.634,85 ha, rừng phòng hộ 302.068,47 ha, rừng đặc dụng 169.207,2 ha. Với tổng trữ lượng gỗ hiện còn khoảng 50 triệu m3, trên 1.000 triệu cây tre, nứa, mét là nguồn nguyên liệu khá lớn cho khai thác lâm nghiệp và phát triển các ngành công nghịêp dựa trên tài nguyên rừng.

Hệ sinh thái động thực vật: Rừng Nghệ An có hệ sinh thái đa dạng với 1.513 loài thực vật bậc cao, 241 loài động vật tập trung chủ yếu ở các khu vực dự trữ sinh quyển thế giới như: Vườn Quốc gia Pù Mất, Khu baỏ tồn thiên nhiên Pù Huống, Pù Hoạt….rất thuận lợi cho việc phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch khám phá, mạo hiểm….

Khu dự trữ sinh quyển thế giới ở miền Tây Nghệ An gồm rừng nguyên sinh – vườn Quốc gia Pù Mát diện tích 93.523 ha cùng với hai khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống (41.127 ha), Pù Hoạt (trên 34.723 ha), là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất Đông Nam Á, với nhiều động vật và thực vật phong phú, quý hiếm có tiềm năng phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái.

Hệ thống hang động: Nghệ An là khu vực có nhiều núi đá vôi nên đã tạo ra hệ thống hang động tương đối phong phú, có nhiều hang động nổi tiếng được thiên nhiên kiến tạo độc đáo và gắn với các phát hiện về di tích khảo cổ tại các hang động này như: hang Thẩm Ồm, hang Bua, hang Thẩm Chạng, hang Cỏ Ngùn (Quỳ Châu), hang Poòng (Quỳ Hợp)….

– Biển: Nghệ An có 82 km bờ biển dài với diện tích 4.230 hải lý vuông mặt nước, dọc bờ biển có 6 cửa lạch, có trên 3.000 ha diện tích nước mặn, lợ, 12.000 ha ao hồ mặt nước ngọt, lợ có khả năng phát triển nuôi trồng và chế biến thủy sản. Đồng muối Nghệ An có khả năng phát triển 900-1.000 ha với sản lượng khoảng 100.000 tấn/năm. Bờ biển Nghệ An dài, phẳng với nhiều bãi tắm đẹp, cát trắng, nước trong, có độ mặn vừa phải, môi trường trong lành, nhiệt độ bình quân nước biển trong cả năm là 20 độ C, số lượng giờ nắng nhiều, thuận tiện cho sự phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng, tắm biển, chữa bệnh như Cửa Lò, Bãi Lữ, Quỳnh Phương, Quỳnh Lập, Diễn Thành…

– Khoáng sản: Nghệ An có trữ lượng một số loại khoáng sản khá lớn, đặc biệt là khoáng sản sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng. Bao gồm: Đá vôi làm xi măng gần 4 tỷ tấn; đá vôi trắng trên 900 triệu tấn; đất sét làm nguyên liệu xi măng trên 1,2 tỷ tấn; sét làm gốm sứ cao cấp 5 triệu m3; đá xây dựng 500 triệu m3; đá bazan 260 triệu m3; đá ốp lát: Granit: 150 triệu m3, Mable 300 triệu m3 v.v.. Đặc điểm lợi thế là các loại khoáng sản trên lại được phân bố tương đối tập trung, nguyên liệu chính và nguyên liệu phụ ở gần nhau, có chất lượng cao, gần đường giao thông nên rất thuận lợi cho sản xuất xi măng, gốm sứ, bột đá siêu mịn, gạch lát, sản phẩm thủ công mỹ nghệ v.v..

2. Tài nguyên nhân văn

Với truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc, chinh phục, cải tạo thiên nhiên và xã hội của Nghệ An đã tạo ra cho mảnh đất Nghệ An có một bề dày về văn hóa, lịch sử, kho tàng văn hóa kiến trúc và nét văn hóa ứng xử riêng có của Nghệ An. Nhiều công trình, di tích lịch sử lưu danh các lãnh tụ, anh hùng, danh nhân lịch sử, khoa bảng, các nhà khoa học, nhà văn hóa của Việt Nam vẫn còn được lưu giữ. Hiện nay, trên địa bàn Nghệ An có hơn 1.000 di tích đã được nhận biết, trong đó có 125 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, 109 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, đặc biệt Khu di tích Kim Liên – Nam Đàn, hệ thống di tích gắn liền với thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc,  Danh nhân văn hóa thế giới vừa được Chính phủ công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia hạng đặc biệt.

Nghệ An có 24 lễ hội đặc trưng gắn liền với sinh hoạt cộng đồng, lễ hội mang màu sắc âm hưởng dân gian, phản ánh cuộc sống và tâm nguyện của người dân về cuộc sống. Lễ hội ở Nghệ An tổ chức trải dài trong năm trong đó tập trung nhiều vào đầu năm (tính theo âm lịch), gắn với ngày hội mùa màng, lễ tết của từng vùng, từng dân tộc, lễ hội tưởng nhớ các vị anh hùng đã có công bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Một số lễ hội đã thu hút đông đảo khách thập phương như lễ hội đền Cờn, lễ hội đền Cuông, lễ hội Vua Mai, lễ hội đền Hoàng Mười, lễ hội Hang Bua,…

Cùng với các lễ hội truyền thống, Nghệ An có nhiều các sản phẩm và làng nghề thủ công truyền thống đa dạng và lâu đời. Làng nghề ở đây gắn liền với phong tục tập quán, tâm linh và sinh hoạt cộng đồng của người dân tại các bản làng, các làng nghề truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác: Làng đan nứa trúc ở Xuân Nha (Hưng Nguyên), làng rèn ở Nho Lâm, làng đục, chạm trổ đá ở Diễn Bình (Diễn Châu), dệt Phường Lịch (Diễn Châu), dệt thổ cẩm, thêu đan của các đồng bào các dân tộc Thái, H’Mông, làng nghề mây tre đan ở Nghi Lộc,…

Không chỉ có vậy, Nghệ An còn có nhiều di sản văn hóa phi vật thể có giá trị như văn học dân gian, âm nhạc dân gian, múa dân gian, các phong tục, tập quán, lễ hội, văn hóa ẩm thực, làng nghề truyền thống…trong đó Dân ca Ví dặm Xứ đã được UNESSCO công nhận là văn hóa phi vật thể đại diện cho nhân loại. Đó là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá có khả năng tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn.

Nhìn chung, nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, kết hợp với nguồn tài nguyên nhân văn mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam gắn liền với cuộc sống của người bản địa mang lại cho du lịch Nghệ An một bản sắc riêng hấp dẫn khách du lịch cả trong và ngoài nước.
Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông: Hệ thống giao thông tỉnh Nghệ An hội tụ đầy đủ các tuyến Đường bộ, cảng hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và các cửa khẩu. Là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực Bắc Trung Bộ, giao thương giữa hai miền Bắc Nam cả nước cũng như trong tuyến hành lang kinh tế Đông Tây. Cụ thể:

+ Đường bộ: Có 6 tuyến quốc lộ đi qua địa bàn tỉnh. Trong đó, có 3 tuyến dọc hướng Bắc Nam (QL 1A, QL 15, đường Hồ Chí Minh), 3 tuyến ngang hướng Đông Tây nối với Lào (QL7, QL46, QL48); có tuyến đường xuyên Á từ nước Lào qua cửa khẩu Thanh Thủy đến cảng Cửa Lò và cảng Đông Hồi; nhiều tuyến đường giao thông quan trọng khác đã và đang được đầu tư xây dựng, cùng với hệ thống đường cấp tỉnh và cấp huyện tạo ra một mạng lưới giao thông liên hoàn nối các huyện, các vùng kinh tế trong tỉnh với nhau và tỏa ra cả nước cũng như các nước trong khu vực.

+ Đường biển: có Cảng Cửa Lò (cách TP Vinh 15 km) hiện tại có công suất 3 triệu tấn/ năm, có thể đón tàu 10.000 DWT ra vào thuận lợi với 4 bến chính. Hiện nay, Cảng nước sâu Cửa Lò đã quy hoạch và đang được đầu tư xây dựng có thể đón tàu 50.000 DWT- 100.000 DWT, là tiềm năng lớn cho ngành vận tải biển và xuất nhập khẩu hàng hóa của Nghệ An, cho cả khu vực Bắc Trung Bộ. Ngoài ra, tỉnh đang tiếp tục xây dựng Cảng Đông Hồi (thị xã Hoàng Mai) có khả năng tiếp nhận tàu 30.000 – 50.000 DWT vào năm 2015.

+ Đường hàng không: có Sân bay Vinh là sân bay chính của khu vực Bắc Trung Bộ. Hiện tại, đã có các tuyến bay từ Vinh đi TP. Hồ Chí Minh (5 chuyến/ ngày), Hà Nội (2 chuyến/ ngày); Vinh – Đà Nẵng – Buôn Ma Thuột (3 chuyến/ tuần); Vinh – Buôn Ma Thuột – TP. Hồ Chí Minh (5 chuyến tuần)….và đường bay quốc tế Vinh-Vientiane (CHDCND lào) Trong thời gian tới, sân bay Vinh sẽ tiếp tục được nâng cấp, tăng thêm các tuyến nội địa, mở thêm một số tuyến bay đi quốc tế

Dự án nâng cấp Sân bay Vinh được công ty liên doanh Mỹ Singapore tư vấn, nhà đầu tư Công Ty Sân Bay Việt nam đã hòan thành và đi vào hoạt động từ năm 2015. Công suất thiết kế là 2 triệu khách/năm và có khả năng tiếp nhận một lúc 1000 khách. Sân bay sẽ tiếp nhận nhiều loại máy bay khác nhau
+ Đường sắt: với 94 km đường sắt Bắc – Nam. Trong đó, Ga Vinh là ga hạng I, là ga hành khách và vận chuyển hàng hóa lớn thứ ba của cả nước. Ngoài ra, còn có tuyến đường sắt Cầu Giát – Thái Hòa lên các huyện miền núi phía Tây của tỉnh.

+ Cửa khẩu: Với 419 km đường biên giới trên bộ với nước CHDCND Lào (dài nhất cả nước), Nghệ An có 4 cửa khẩu đi sang Lào. Trong đó, 1 cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn (Kỳ Sơn), 1 cửa khẩu Quốc gia Thanh Thủy (Thanh Chương) hiện đã được quy hoạch là cửa khẩu quốc tế và 2 cửa khẩu phụ: Thông Thụ (Quế Phong) và Cao Vều (Anh Sơn) là vệ tinh và đầu mối phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu phía Tây Bắc nối liền các tỉnh từ Bắc Bộ đến các tỉnh Trung Bộ của Việt Nam với các tỉnh Trung, Bắc Lào, Đông Bắc Thái Lan và Myanmar.
Hạ tầng và các dịch vụ hỗ trợ đầu tư khác:
– Hệ thống cấp Điện: Điện lưới Quốc gia đã phủ hết 20 huyện, thành, thị trong tỉnh. Nhiều công trình thủy điện đã và sẽ hoàn thành đi vào hoạt động như: Thủy điện Bản Vẽ, Khe Bố, Hủa Na, Bản Cốc, Nhạn Hạc và hàng chục nhà máy thủy điện vừa và nhỏ khác đảm bảo cung cấp điện ổn định cho sản xuất và sinh hoạt. Hiện nay, nhà máy nhiệt điện công suất 2.400MW đã được phê duyệt quy hoạch.
– Hệ thống cấp cấp nước: cung cấp đủ cho các cơ sở sản xuất công nghiệp và cơ bản cho sản xuất nông nghiệp nhờ hệ thống sông ngòi, hồ, đập sẵn có ở Nghệ An và lượng mưa hàng năm tương đối cao so với cả nước. Hệ thống các nhà máy nước hiện có và các nhà máy đang tiếp tục được đầu tư xây dựng đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất.
– Thông tin – viễn thông: Cơ sở vật chất và mạng lưới Bưu chính viễn thông hiện đại, với đầy đủ các loại hình dịch vụ có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu trao đổi thông tin, liên lạc trong nước và quốc tế. Trên địa bàn hiện có mặt hầu hết các mạng điện thoại cố định và di động, phủ sóng hết các huyện, thành, thị trong tỉnh. Đến nay, 100% phường, xã có điện thoại, số thuê bao internet đạt 26,1/ 100 dân. Năm 2012, Nghệ An là tỉnh được xếp thứ 4 về chỉ số ứng dụng công nghệ thông tin so với các tỉnh, thành phố trong cả nước.
– Tài chính – Ngân hàng – Bảo hiểm:
Nghệ An có hệ thống Ngân hàng từ tỉnh tới các huyện, thành, thị. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có đầy đủ các ngân hàng và chi nhánh các ngân hàng thương mại lớn trong nước (hiện tại có 43 ngân hàng và chi nhánh ngân hàng). Cùng với các Dịch vụ tài chính, bảo hiểm ngày càng hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp trên địa bàn.
– Cơ sở Y tế:
Nghệ An có mạng lưới bệnh viện đồng bộ với trang thiết bị hiện đại từ tuyến tỉnh, huyện, các phòng khám đa khoa khu vực và mạng lưới y tế xã, phường tương đối tốt. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân và các nhà đầu tư. Ở tuyến tỉnh có bệnh đa khoa Nghệ An quy mô 700 giường, có 8 bệnh viện tư nhân (trong đó có 2 bệnh viện quy mô 500 giường bệnh).

– Siêu thị – khách sạn – nhà hàng:
Có các siêu thị lớn tại TP Vinh như BigC, Metro, Intimex … và nhiều trung tâm thương mại, mua sắm khác trên địa bàn toàn tỉnh; Hệ thống cơ sở khách sạn, nghỉ dưỡng với đầy đủ các dịch vụ, tiện nghi. Trong đó, có 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, 4 khách sạn tiêu chuẩn 4 sao, cùng nhiều các khách sạn 3 sao, 2 sao. Hàng năm thu hút trên 3 triệu lượt khách du lịch, trong đó có trên 300.000 lượt khách du lịch quốc tế.
– Các điểm Du lịch chủ yếu:
* Du lịch Nam Đàn: Khu di tích Kim Liên – quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh (bao gồm quê nội, quê ngoại, khu mộ bà Hoàng Thị Loan, Núi Chung). Khu di tích vua Mai Hắc Đế.
* Du lịch TP. Vinh và phụ cận: Tượng đài Bác Hồ và Quảng trường Hồ Chí Minh; khu vui chơi giải trí: Công viên Trung tâm, khu du lịch Lâm viên – Núi Quyết, Bến Thuỷ và khu vui chơi giải trí du lịch Hồ Cửa Nam. Các Di tích đã được xếp hạng Quốc gia: Đền Hồng Sơn, Chùa Cần Linh, Thành Cổ Vinh, Đền thờ vua Quang Trung, các bảo tàng…
* Du lịch biển Cửa Lò và Bãi Lữ Resort: Tắm biển, nghỉ mát, tham quan Đảo Ngư, Đảo Mắt và thể thao, du lịch tâm linh.
* Khu du lịch Vườn quốc gia Pù Mát và các khu bảo tồn thiên nhiên.
* Khu du lịch sinh thái văn hoá Quỳ Châu – Quế Phong: Hang Bua, hang Thẩm Ồm, Thác Xao Va, Bảo tàng dân tộc và nhiều khu rừng nguyên sinh, tái sinh…
* Ngoài ra,  còn có các khu du lịch khác như khu du lịch văn hoá lịch sử Đền Cuông – Cửa Hiền, khu du lịch sinh thái Bãi Lữ, nước khoáng nóng Giang Sơn – Đô Lương, khu du lịch biển Quỳnh Bảng, Quỳnh Phương gắn với du lịch văn hoá tâm linh Đền Cờn.

Tổng hợp các lợi thế so sánh của tỉnh Nghệ An

1. Vị trí chiến lược:

Nghệ An là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Bắc Trung bộ, trên tuyến giao lưu Bắc Nam và Đông Tây, có đường biên giới trên bộ 419 km (dài nhất cả nước) tiếp giáp với nước CHDCND Lào với 4 cửa khẩu; Thành phố Vinh là đô thị loại 1, đã được Chính phủ phê duyệt về việc xây dựng trở thành trung tâm kinh tế – văn hóa của cả vùng Bắc Trung Bộ.

2. Tài nguyên phong phú

Là tỉnh có diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước với 16.499,25 km2 , địa hình phong phú, đa dạng, có biển, đồng bằng và miền núi; có nhiều loại khoáng sản dồi dào; diện tích rừng rộng lớn, độ che phủ cao; bờ biển dài, diện tích mặt nước biển lớn; Nghệ An có tiềm năng lớn để phát triển các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, kinh tế rừng và biển.

3. Cơ sở hạ tầng  và dịch vụ hỗ trợ đầu tư đồng bộ:

Nghệ An là một trong số ít các địa phương trong nước có hệ thống giao thông đồng bộ với đủ các loại hình: đường bộ, đường sắt quốc gia, đường không (sân bay Vinh), đường sông và đường biển (cảng Cửa Lò, Đông Hồi). Trong đó, Sân bay Vinh là sân bay chính của khu vực Bắc Trung Bộ. Hệ thống cấp điện, cấp nước, các dịch vụ bưu chính – viễn thông, tài chính, ngân hàng, các cơ sở giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ đảm bảo đáp ứng nhu cầu của mọi người dân và doanh nghiệp. Hạ tầng phục vụ du lịch, vui chơi giải trí đã và đang được quan tâm đầu tư, nâng cấp.

4. Nguồn nhân lực dồi dào và được đào tạo:

Với dân số hơn 3 triệu người (đứng thứ tư trong cả nước), Nghệ An nổi tiếng là địa phương có truyền thống hiếu học và học giỏi, cần cù và sáng tạo; hội tụ nhiều trường đại học và các trường dạy nghề có chất lượng, xứng đáng là  trung tâm giáo dục – đào tạo của khu vực Bắc miền Trung và cả nước, nơi cung cấp nguồn nhân lực dồi dào, có chất lượng cho đầu tư, phát triển và là thị trường lớn cho mọi hàng hoá, dịch vụ ..

5. Tiềm năng du lịch phong phú:

Là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh – Danh nhân văn hoá thế giới, điểm khởi đầu của “Con đường Di sản Miền Trung”, với nhiều bãi biển đẹp, khu dự trữ sinh quyển phía Tây Nghệ An với nhiều khu rừng nguyên sinh, vùng sinh thái hấp dẫn, bên cạnh hệ thống các sông suối, hồ, đập, thác, hang động và hàng ngàn khu di tích lịch sử, văn hóa nổi tiếng đã tạo ra tiềm năng lớn để xây dựng Nghệ An là một trọng điểm du lịch của cả nước và khu vực.

6. Kinh tế phát triển năng động, an ninh chính trị ổn định

Nền kinh tế của tỉnh trong những năm qua phát triển mạnh mẽ và bền vững với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10,5% (cao hơn mức bình quân cả nước); thu ngân sách nhiều năm liền đứng đầu các tỉnh trong khu vực Bắc Trung Bộ. Đồng thời, an ninh chính trị ổn định và trật tự xã hội được đảm bảo, là những điều kiện căn bản để thu hút đầu tư và du lịch.

7. Cơ chế, chính sách thu hút đầu tư thông thoáng

Cung với các tiềm năng lợi thế, trong những năm qua tỉnh đã tập trung chú trọng nỗ lực cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh. Thực hiện tốt phương châm “Chính quyền đồng hành cùng doanh nghiệp”, đối thoại trực tiếp giữa chính quyền và các doanh nghiệp để giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư; tích cực thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thực hiện cơ chế một cửa liên thông một đầu mối đối với tất cả các thủ tục đầu tư và ban hành các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phù hợp, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nhà đầu tư nghiên cứu, tìm hiểu cơ hội và triển khai thực hiện có hiệu quả các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.